Kết quả 1 đến 7 của 7

Chủ đề: Núi thiêng Yên Tử

Hybrid View

  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2010
    Đang ở
    Cầu Giấy, Hà Nội
    Bài viết
    412
    Cảm ơn!
    4,578
    Thanked 8,366 Times in 379 Posts

    Mặc định

    TỔ THỨ BA PHÁI TRÚC LÂM
    THIỀN SƯ HUYỀN QUANG
    (1254 – 1334)
    Sư tên Lý Đạo Tái, sanh năm Giáp Dần (1254) ở làng Vạn Tải thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ dòng dõi quan liêu, nhưng đến đời ông thì không thích công danh, chỉ ưa ngao du sơn thủy. Tuy có công dẹp giặc Chiêm Thành, mà ông không nhận chức quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. Nhà Sư ở phía nam chùa Ngọc Hoàng. Năm Sư sanh, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Thiền sư Huệ Nghĩa tối tụng kinh trên chùa xong, xuống phòng ngồi trên ghế trường kỷ, chợt ngủ quên mộng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng, chư Phật tụ hội đông vầy, Kim cang Long thần chật nứt, Phật chỉ tôn giả A-nan bảo: “Ngươi thác sanh làm pháp khí cõi đông.” Chợt có ông đạo gõ cửa, ông chợt tỉnh giấc, làm bài kệ viết trong vách chùa:
    Âm: Nhân chi vị đạo khởi tha tầm
    Tâm tức Phật hề Phật tức tâm
    Huệ địch kiết tường vi ảnh hưởng
    Thử sanh tất kiến hảo tri âm.
    Dịch: Người mà vì đạo chớ tìm đâu,
    Phật vốn tâm mình, tâm Phật sâu.
    Mộng thấy điềm lành là ảnh hưởng,
    Đời này ắt gặp bạn tâm đầu.
    Thuở nhỏ Sư dung nhan kỳ lạ, ý chí xa vời, cha mẹ mến yêu dạy các học thuật. Sư học một biết mười, biện tài hiển Thánh. Niên hiệu Bảo Phù thứ hai (1274), đời vua Trần Thánh Tông, Sư thi đỗ Tiến sĩ (Trạng nguyên), lúc ấy được hai mươi mốt tuổi. Cha mẹ tuy đã định hôn cho Sư, nhưng chưa cưới. Sau khi thi đậu, nhà vua gả công chúa cho, Sư vẫn từ chối.
    Sư được bổ làm quan ở Hàn lâm viện và phụng mạng tiếp đón sứ Trung Hoa. Văn chương ngôn ngữ của Sư vượt hơn sứ Trung Hoa, khiến họ phải nể phục.
    Một hôm, Sư theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng Nhãn nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, Sư chợt tỉnh ngộ duyên trước, khen ngợi quí mến, tự than: “Làm quan được lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ Đà, đảo trên nhân gian là bậc tiên, cảnh giới tây thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quí như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến?”
    Sư mấy phen dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành. Chính nhà vua rất mến trọng Phật giáo, nên sau cùng mới cho. Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Sư xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự, được pháp hiệu là Huyền Quang.
    Niên hiệu Hưng Long thứ mười bảy (1309), Sư theo hầu Pháp Loa y theo lời phó chúc của Điều Ngự. Sư vâng lệnh trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Do Sư đa văn bác học, tinh thâm đạo lý, nên học đồ bốn phương nghe danh tụ hội về tham vấn thường xuyên không dưới ngàn người.
    Sư thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển Chư phẩm kinh, Công văn v.v… Những khoa giáo trong nhà thiền mỗi mỗi đều phải qua tay Sư cả.
    Ngày rằm tháng giêng năm Quí Sửu (1313) Vua Anh Tông mời về kinh ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, Sư dâng chiếu xin về quê thăm viếng cha mẹ. Nhân đây, lập ngôi chùa phía tây nhà Sư để hiệu là chùa Đại Bi.
    Sư trở về chùa Vân Yên, lúc đó đã sáu mươi tuổi. Nhà vua muốn thử lòng Sư nên cho Điểm Bích là một cung nhân tìm cách gần Sư để lấy bằng chứng đem về dâng vua. Điểm Bích dùng man kế gợi lòng từ bi của Sư, rồi về tâu dối với vua. Vì thế, Sư bị tai tiếng không tốt. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của Sư, thấy những sự linh nghiệm lạ thường, nhà vua không còn nghi ngờ. Vua liền phạt Điểm Bích làm kẻ nô bộc quét chùa trong cung Cảnh Linh ở nội điện.
    Năm Đại Khánh thứ tư (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự và tâm kệ.
    Năm 1330, khi Tổ Pháp Loa tịch, Thiền sư Huyền Quang kế thừa làm Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, bấy giờ Ngài đã bảy mươi bảy tuổi. Tuy nhận trọng trách lãnh đạo Giáo hội, song vì già yếu nên Ngài ủy thác mọi việc cho Quốc sư An Tâm, trở về trụ trì ở Côn Sơn.
    Sư trụ trì ở Thanh Mai Sơn sáu năm. Kế sang Côn Sơn giáo hóa đồ chúng. Đến ngày hai mươi ba tháng giêng năm Giáp Tuất (1334) Sư viên tịch tại Côn Sơn, thọ tám mươi tuổi.
    Vua Trần Minh Tông phong thụy là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.
    Những tác phẩm của Sư:
    - Ngọc tiên tập
    - Chư phẩm kinh
    - Công văn tập
    - Phổ Tuệ Ngữ Lục
    Trích trong “ Tam Tổ Trúc Lâm” của tác giả Thích Thanh Từ
    PTG lạm bàn: Cuốn “ Tam Tổ Trúc Lâm” được tác giả Thích Thanh Từ, biên soạn và khảo cứu rất công phu dựa trên những tài liệu lịch sử cũng như dã sử còn xót lại viết về ba vị sư tổ của Trúc Lâm Thiền Phái. Đọc tiểu sử của ba vị Tổ, người đọc dễ nhận thấy là những thông tin, tài liệu viết về sơ tổ và tổ thứ hai của Thiền phái là khá nhiều và chi tiết. Tuy nhiên về tiểu sử của sư tổ Huyền Quang lại khá ít, có nhiều điểm còn khá mơ hồ cần được làm rõ...Dù sao đây cũng là một nguồn tài liệu tham khảo thông tin bổ ích.
    Lần sửa cuối bởi PhongThuyGia, ngày 26-09-2011 lúc 09:47.
    Đường Lương Tri Tâm Huệ đã mở ra
    Đem ánh sáng an vui đến mọi nhà

  2. 12 Thành Viên Gửi Lời Cảm Ơn Tới PhongThuyGia

    bocautrang (29-09-2011),Hoan (27-09-2011),lê chí công (28-12-2023),longtadinh (29-03-2014),Nganpham (03-09-2016),nghiad99 (01-11-2012),nhuhainguyen (26-09-2011),Tamhuongthien (31-10-2023),TruongKhoat (26-09-2011),tudo17 (05-10-2011),vanbac1977 (26-09-2011),ĐINHQUANG HIỆP (26-09-2011)

  3. #2
    nhatchimai_2405 Guest

    Mặc định

    THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
    Hỡi ai quyết chí tu hành,
    Núi thiêng Yên Tử, non xanh đang chờ

    DẪN NHẬP
    Theo dòng lịch sử, chúnta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
    Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới Việt Nam, Ấn Độ, Trung Hoa hay Nhật Bản.... "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Song Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Chính vì vậy nên mới có Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Tích Lan, vv... Vậy đã gọi là Phật giáo Việt Nam thì nó phải có những nét gì đặc sắc của Việt Nam khiến người nhìn vào đánh giá được đó là Phật giáo Việt Nam? Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp rất nhiều lợi ích trên đường phát triển của dân tộc và sẽ ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài nữa.
    Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình." (Tập I, tr. 482)
    Tức là nền Phật giáo Trúc Lâm tự có một nét độc lập của nó, và đó chính là điểm chúng ta cần khai thác và phát huy. Mà nói Phật giáo Trúc Lâm, cũng tức nói đến Thiền phái Trúc Lâm, vì lúc đó không có giáo hội nào khác nữa. Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không hiểu về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử, một của báu của dân tộc càng phải được hiểu rõ.
    MẠCH NGUỒN THIỀN PHÁI TRÚC LÂM.
    1. XÉT XA VỀ TRƯỚC: Như chúng ta đã biết, Thiền phái Trúc Lâm vốn dung hợp ba dòng thiền đã có từ trước:
    *TỲ NI ĐA LƯU CHI-Thếkỷ 6:
    Cuối thế kỷ thứ sáu, thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi người Nam Thiên Trúc sang Trung Hoa, đắc pháp với tam tổ Tăng Xán và được Tổ chỉ dạy về phương Nam truyền đạo. Vâng lời dạy của Tam Tổ, Sư đến Việt Nam ở chùa Pháp Vân tháng ba năm Canh Tý (580), sau đó truyền pháp cho thiền sư Pháp Hiền, người Việt Nam mở đầu cho dòng thiền tông "Giáo ngoại biệt truyền" tại đất Việt, truyền thừa được 19 thế hệ.
    *VÔ NGÔN THÔNG-Thếkỷ 9:
    Do thiền sư Vô Ngôn Thông, người Trung Hoa, đệ tử đắc pháp của tổ Bá Trượng truyền sang. Sách Truyền Đăng Lục gọi là Bất Ngữ Thông.
    Năm 820, Sư từ Quảng Châu qua Việt Nam ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Đức, Bắc Ninh, gặp nhà sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ, Sư truyền pháp và đổi tên là Cảm Thành. Từ đó, Việt Nam có thêm dòng thiền Vô Ngôn Thông, cũng gọi là dòng Kiến Sơ, truyền thừa được 17 thế hệ.
    *THẢO ĐƯỜNG-Thếkỷ 11:
    Do thiền sư Thảo Đường, một vị tăng được phát hiện trong nhóm tù nhân bắt được của Chiêm Thành mà vua Lý Thánh Tông đã đem quân chinh phạt năm 1069. Sư cũng là người Trung Hoa, thuộc truyền thống của thiền sư Tuyết Đậu - Minh Giác, tông Vân Môn, truyền thừa được 6 thế hệ.
    Trên đây là ba dòng thiền đã hội nhập vào một Thiền phái Trúc Lâm. Tuy nhiên nếu xét xa về trước nữa thì mạch nguồn thiền tông này phát xuất từ Phật Thích Ca truyền cho Tổ Ca Diếp và chảy dài xuống.
    2.MẠCH NGUỒN TRỰC TIẾP:
    Thiền phái Trúc Lâm tuy do Đại Đầu Đà Trúc Lâm làm Sơ tổ, nhưng mạch nguồn Yên Tử vốn bắt nguồn từ thiền sư Hiện Quang (thế hệ 15 dòng Vô Ngôn Thông). Chính Sư là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi là Hoa Yên, trên núi Yên tử. Sư là đệ tử nối pháp của thiền sư Thường Chiếu (thế hệ 13 dòng Vô Ngôn Thông), trước ở núi Từ Sơn sau mới đến Yên Tử và chính là Tổ ban đầu của dòng truyền Yên Tử.
    Kế tiếp thiền sư Hiện Quang là quốc sư Trúc Lâm mà vua Trần Thái Tông gọi là Đại Sa Môn Trúc Lâm trong chuyến vượt thành lên núi của Vua, đã thuật lại trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam. Đa số người đồng cho là thiền sư Đạo Viên hay Viên Chứng (thế hệ 16 dòng Vô NgônThông).
    Tiếp theo quốc sư Trúc Lâm là quốc sư Đại Đăng, người đã từng về kinh thành Thăng Long hành đạo và tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa.
    Tiếp theo quốc sư Đại Đăng là thiền sư Tiêu Diêu (thế hệ 17 dòng Vô Ngôn Thông), thầy của Thượng sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là đại sư Phúc Đường ở tịnh xá Phúc Đường. Tiêu Diêu cũng là người đắc pháp với ngài Ứng Thuận dòng Vô Ngôn Thông (thế hệ 13).
    Kế tiếp thiền sư Tiêu Diêu là thiền sư Huệ Tuệ, mà theo Nguyễn Lang, tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, đã cho là Sư vốn làm hoà thượng đàn đầu truyền giới pháp cho vua Trần NhânTôngkhivuaxuấtgia.
    Sau thiền sư Huệ Tuệ, mới chính là Đại đầu đà Trúc Lâm Trần Nhân Tông.
    Kếđólà:
    - Tổ sư Pháp Loa
    - Tổ sư Huyền Quang
    - Quốc sư An Tâm
    - Quốc sư Phù Vân (hiệu Tĩnh Lự)
    - Quốc sư Vô Trước
    - Quốc sư Quốc Nhất
    - Tổ sư Viên Minh
    - Tổ sư Đạo Huệ
    - Tổ sư Viên Ngộ
    - Quốc sư Tổng Trì
    - Quốc sư Khuê Thám
    - Quốc sư Sơn Đằng
    - Đại Sư Hương Sơn
    - Quốc sư Trí Dung
    - Tổ sư Tuệ Quang
    - Tổ sư Chân Trú
    - Đại sư Vô Phiền
    (Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Phúc Điền)

    Vậy xét theo dòng truyền Yên Tử thì Đại đầu đà Trúc Lâm thuộc thế hệ thứ sáu, nhưng đến Ngài, Ngài đã thống nhất các thiền phái đã có thành một thiền phái Trúc Lâm, lấy Ngài làm Sơ Tổ. Từ đây, Việt Nam thực sự đã có một dòng thiền Phật giáo của người Việt, do chính người Việt làm Tổ...
    Song đó là nói theo truyền thống lịch sử, nếu nói thẳng trong lẽ thật sâu xa, chính bắt nguồn thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử là từ sự tỏ ngộ của vua Trần Nhân Tông.
    Chính khi vua hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung:
    - Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?
    Thượng sĩ đáp:
    - Soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác để được.
    Ngay đó vua nhận được tông chỉ Thiền, mở sáng con mắt Đạo. Từ sức sống đó, vua đã sống vượt qua mọi biến chuyển của thế gian, để rồi chuyển mình thành thiền sư, truyền mạch sống cho một dòng thiền Việt Nam chảy mãi đến ngày nay. Nếu không có sứ sống chân thật kia thử hỏi dòng thhiền Trúc Lâm có được mạch sống thiền đúng như nghĩa của nó, hay chỉ là trên hình thức chữ nghĩa? Do đó, khai thác mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chúng ta không thể chỉ khai thác trên bề mặt lịch sử dễ thấy, hoặc trên hình thức phân ích theo chiều suy nghĩ của tình thường, mà còn phải khai thác phần sâu xa vượt ngoài chữ nghĩa ấy!
    Chúng ta hãy lặng lòng lắng nghe lờ mở đầu cho buổi đại tham của sơ tổ Trúc Lâm tại chùa Sùng Nghiêm, tức mở đầu truyền mạch sống thiền cho đại chúng:
    " Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong, bước lên toà. Vị thượng thủ bạch chùy, v.v..., rồi Ngài nói:
    - Phật Thích Ca Văn vì một "việc lớn" mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi (nói pháp) mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ông lên ngồi toà này, biết nói chuyện gì đây?"
    Chúng ta thấy một điểm đặc biệt khác thường. Trước khi nói pháp, Ngài chặn đầu trước, dẫn Phật Thích Ca 49 năm nói pháp nhưng vốn chưa từng nói một lời nào, vậy thì hiện tại sẽ nói cái gì đây? Những điều Ngài sắp nói là có nói hay không?
    Chính đây là một cách khéo léo nhằm nhắc nhở người nghe phải thấu qua chữ nghĩa, nghe đến tộ trước khi mở miệng kìa! Đó mớithực là sức sống thiền mà Ngài muốn truyền đạt. Còn chữ nghĩa nói ra là việc bất đắc dĩ, là ngọn ngành về sau, bởi vì người chưa thấu tột cội nguồn kia nên phương tiện phải nói. Song nói mà ý vốn không ở nơi lời. Tông chỉ thiền hay Yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền chính đã thổ lộ trong đó. Người lanh mắt hẳn bắt gặp ngay.
    Mạch nguồn chân thật của thiền phái Trúc Lâm chính là đó.
    Do đó, người muốn thâm nhập mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên tử, đòi hỏi phải là một HÀNH GIẢ, không thể là một HỌC GIẢ.
    (Trích THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ - TT. THICH THÔNG PHƯƠNG)

  4. 6 Thành Viên Gửi Lời Cảm Ơn Tới nhatchimai_2405

    Hoan (30-09-2011),longtadinh (29-03-2014),nghiad99 (01-11-2012),TruongKhoat (29-09-2011),tudo17 (05-10-2011),ĐINHQUANG HIỆP (03-10-2011)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •