Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    Ngày tham gia
    Mar 2014
    Đang ở
    Hà nội
    Bài viết
    99
    Thanks
    4,955
    Thanked 1,991 Times in 100 Posts

    Mặc định Truyền kỳ về vị Trạng nguyên Tam nguyên đầu tiên trong sử Việt

    Từ cậu bé học lỏm đến Tam nguyên

    Nguyễn Quán Quang lúc nhỏ có tên là Nguyễn Quan Quang, sinh ở xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
    Gia đình ông nghèo khó, bữa đói bữa no, nên không thể có tiền cho Nguyễn Quan Quang ăn học. Ông vẫn hay la cà ngoài lớp học lắng nghe các trò đọc “tam tự kinh”, nhìn qua cửa học lỏm chữ rồi dùng gạch non viết xuống nền sân. Dù không có thẻ tre và bút, nhưng nét chữ bằng gạch non viết xuống nền sân rất rõ ràng và đẹp.
    Một lần tan học, thầy đồ ra ngoài sân thì thấy có nhiều chữ viết như rồng bay phượng múa. Biết được người viết những chữ này là cậu bé vẫn la cà ở ngoài lớp học, thầy đồ kinh ngạc nói rằng: “đây mới chính là trò giỏi”. Rồi thầy cho gọi Quan Quang vào lớp và thu nhận làm học trò.
    Nguyễn Quan Quang nổi tiếng thông minh học một biết mười, chẳng bao lâu mà đã thông kinh, thuộc sử, ứng khẩu thành thơ.


    Nguyễn Quan Quang dùi mài kinh sử. (Tranh minh họa qua truyenxuatichcu.com)
    Lớn lên Nguyễn Quan Quang đi thi đời vua Trần Thái Tông, với tài năng vượt trội đỗ cả Giải nguyên, Hội nguyên và Trạng nguyên tức đỗ Tam nguyên. Ông trở thành Tam nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa bảng. Theo văn bia số 1 tại Văn miếu Bắc Ninh, thì ông là người đỗ Trạng nguyên khoa thi Bính Ngọ 1246, tức năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 15 đời vua Trần Thái Tông.
    Người dân thời đấy đều gọi ông là “ông Tam nguyên”, và gọi tên ông là Quán Quang.
    Sau khi vinh quy bái tổ, Nguyễn Quán Quang được vào Triều làm quan. Vua Thái Tông thấy ông có dáng người cao lớn, lại có khí phách hơn người nên rất quý mến, ban quốc tính cho ông, gọi là Trần Quán Quang.
    Thể hiện khí phách Đại Việt trước đại quân Mông Cổ

    Nguyễn Quán Quang được biết tới với giai thoại đỗ Tam nguyên và đối đáp với tướng Mông Cổ.
    Bấy giờ quân xâm lược Mông Cổ tiến đến biên giới đông như kiến cỏ, lăm le đợi ngày xâm chiếm nước ta.
    Vua ra chiếu cử Nguyễn Quan Quang sang thương nghị với giặc. Tên tướng giặc nổi tiếng là kiêu hùng và thâm thuý, cho rằng Quan Quang đến là để mang ba tấc lưỡi thuyết khách, hắn bèn nghĩ cách dùng uy để chế áp ông. Nhân đi qua ao bèo, hắn vớt một cây bèo lên, nắm gọn trong lòng bàn tay rồi bóp chặt. Lát sau, hắn mở ra chìa cho Ông xem: cây bèo đã nát vụn, thế rồi hắn cười sằng sặc ra chiều đắc ý lắm.
    Ông Quan Quang hiểu ý viên tướng giặc muốn nói coi nước Việt như những cánh bèo non yếu chỉ cần khẽ đánh là tan.
    Nghĩ vậy Ông liền nhặt một hòn đá rất to, rồi ném xuống giữa ao. Bèo dạt ra một khoảng trống, nhưng lạ thay chỉ giây lát sau những cánh bèo lại tụ lại kín mặt ao. Tướng giặc tái mặt hiểu thâm ý của Ông : Người Việt bao giờ cũng đoàn kết toàn dân để bảo vệ giang sơn, không một sức mạnh nào có thể khuất phục được. Chính vì thế, hắn phải hoãn binh không dám tiến quân sang xâm lược nước ta ngay.





    Tranh minh họa từ Báo Bình Phước.
    Vì Đại Việt không tỏ ý khuất phục Mông Cổ nên phải đợi đến năm 1258, sau khi đánh bại Đại Lý, quân Mông Cổ mới có bàn đạp tiến đánh Đại Việt.
    Trong cuộc chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, Trần Quán Quang có nhiều đóng góp nên được Vua phong cho làm Bộc Xạ (chức quan chỉ sau Tể Tướng). Ông làm quan rất thanh liêm, hết lòng vì Giang Sơn Xã Tắc.
    Khi làm quan ông hết lòng vì dân vì nước, thanh liêm, trung thực, được trong triều ngoài dân mến phục cả về tài lẫn về đức. Khi tuổi già, ông về quê hương mở trường dạy học, sống một cuộc đời thanh đạm, lấy việc dạy trò làm nguồn vui. Người dân Tam Sơn cho rằng ông là người khai sáng nền Hán học của quê hương, mở đường cho đất “Ba Gò” sau này có “một kho nhân tài”…
    Nơi Nguyễn Quan Quang dạy học về sau dân dựng lên một ngôi chùa để tưởng nhớ đến người “sống như tu”, gọi là chùa Linh Khánh. Ngôi chùa ấy qua thời gian biến đổi nay không còn nữa, nhưng vẫn còn một cây hương đá tạc vào năm Chính Hoà thứ 18 (1697), trong đó ghi công đức của Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang với dân làng.
    Sau khi Nguyễn Quan Quang mất, dân làng lập đền trên nùi Viềng, để thờ ông làm thần Thành hoàng, gọi là Bản thổ thành hoàng, đại vương phúc thần. Triều đình cũng truy phong ông là Đại tư không.
    Hằng năm cứ vào dịp 22 tháng chạp âm lịch, dân làng lại tổ chức “Tế phong mã” để tưởng nhớ tới vị trạng nguyên tài năng và đầy ân đức, cũng là để nhắc nhở các thế hệ con cháu nối tiếp truyền thống hiếu học, yêu dân, yêu nước của tổ tiên…
    (sưu tầm internet)
    Lần sửa cuối bởi lê chí công, ngày 21-08-2019 lúc 22:31.
    Làm việc thiện cứu đời
    Giữ lòng mình trong sạch

  2. 17 Thành Viên Gửi Lời Cảm Ơn Tới lê chí công

    bần tăng (21-08-2019),haixuyentb (20-08-2019),Hạ Vi (24-08-2019),Hạnh An (21-08-2019),Hieuhoc (26-08-2019),hoanlinh (20-08-2019),hoatran (21-08-2019),hoatuyet (23-08-2019),longtadinh (20-08-2019),nganuoc (20-08-2019),nguyenbinh82cm (21-08-2019),Phương Nam (21-08-2019),THANHTINH (22-08-2019),theoThầy (20-08-2019),Trung Nghĩa (21-08-2019),trungthanh (21-08-2019),TuMinh (21-08-2019)

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •